Chuyên mục sức khoẻ

CÚM H1N1 VÀ PHÒNG NGỪA LÂY NHIỄM CÚM

CÚM H1N1 VÀ PHÒNG NGỪA LÂY NHIỄM CÚM

VÌ  SAO  PHẢI   NGỪA  CÚM HÀNG NĂM 

Cấu  trúc  vi  rút  cúm  A
Đặc  điểm  đáng  chú  ý  nhất  của  vi  rút  cúm    thường  hay  có  những  biến  đổi  kháng  nguyên.  Sự biến đổi  này  diễn  ra  hàng  năm  và  thường  gặp  ở  vi  rút  cúm  A,  ít  gặp  ở  vi  rút  cúm  B  và  không  gặp  ở  vi  rút  cúm  C.  Khi có  sự  biến  đổi  kháng  nguyên  sẽ  xuất  hiện  chủng  cúm  mới  gây  bệnh  trong  khi  cộng  đồng  chưa  có  miễn  dịch  chống  lại  chủng  mới  này.  Đó  là  lý  do  tại  sao  hàng  năm  vẫn  có  nhiều  vụ  dịch  cúm  trong  cộng  đồng  và  tại  sao  chúng  ta  phải  chủng  ngừa  hàng  năm.

Vi  rút  cúm  có  thể  biến  đổi  kháng  nguyên  theo  hai  cách  khác  nhau:  thay  đổi  “vận  động  kháng  nguyên”  (antigenic  drift)  và  thay  đổi  “đột  biến  kháng  nguyên”  (antigenic  shift).

THAY ĐỔI  “VẬN  ĐỘNG  KHÁNG  NGUYÊN”

Đây là  những  thay  đổi  nhỏ  trong  các  gen  của  vi  rút  cúm  xảy  ra  liên  tục  theo  thời  gian  khi  vi  rút  sao  chép.  Những thay đổi di  truyền  nhỏ  này  làm  thay  đổi  cấu  trúc  kháng  nguyên  ở  một  hoặc  vài  acid  amin.

Những thay  đổi  di  truyền  nhỏ  này  thường  gây  nên  các  vụ  dịch  vừa  và  nhỏ.  Nhưng khi có sự tích  lũy  lớn  của  những  thay  đổi  kháng  nguyên  theo  thời  gian,  các  kháng  thể  được  tạo  ra  để  chống  lại  các  vi  rút  cũ  không  nhận  ra  được  vi  rút  “mới”  và  người  nhiễm  vi  rút  đó  có  thể  bị  cúm  trở  lại.  Những thay đổi di truyền  dẫn  đến  một  chủng  vi  rút  mới  có  đặc  tính  kháng  nguyên  khác      do  chính  khiến  mọi  người  có  thể  bị  cúm  nhiều  lần.  Đây cũng  là  lý  do  tại  sao  thành  phần  vắc-xin  cúm  phải  được  xem  xét  lại  hàng  năm  và  được  cập  nhật  khi  cần  thiết  để  bắt  kịp  với  việc  biến  đổi  vi  rút.

Cúm

THAY  ĐỔI  “ĐỘT  BIẾN  KHÁNG  NGUYÊN”

Sự  thay  đổi  “đột  biến  kháng  nguyên”  là  một  sự  thay  đổi  lớn  trong  vi  rút  cúm  A,  dẫn  đến  hemagglutinin  mới  và/hoặc  các  protein  hemagglutinin  và  neuraminidase  mới  của  vi  rút  cúm.  Sự  thay  đổi  kháng  nguyên  là  do  cơ  chế  tái  tổ  hợp  tức  là  sự  sắp  xếp  lại  bộ  gen.  Kết quả là  hình  thành  một  chủng  vi  rút  cúm  mới.  Nguồn kháng nguyên  gây  dịch  ở  người  chính  là  các  loại  vi  rút  cúm  A  ở  các  loài  động  vật  khác  nhau  (gia  cầm,  lợn…).  Ví dụ, nếu  một  vi  rút  cúm  A  của  lợn  nhiễm  sang  đường  hô  hấp  của  một  người,  thì  có  thể  xảy  ra  tái  tổ  hợp  giữa  vi  rút  cúm  người  và  cúm  lợn,  tạo  nên  một  biến  thể  vi  rút  cúm  A  mới  ở  con  người.

Sự  tái  tổ  hợp  dẫn  tới  thay  đổi  kháng  nguyên  vi  rút  cúm

Trong  thế  kỷ  XX,  có  3  hemagglutinin  mới  và  2  neurominidase  mới.  Năm 1957, có  chủng  vi  rút  gây  đại  dịch  là  cúm  A/H2N2.  Năm 1968,  có  sự  chuyển  dịch  kháng  nguyên  ở  hemagglutinin,  tạo  nên  chủng  cúm  mới  là  cúm  A/H3N2  gây  đại  dịch.  Năm 1977,

có  sự  chuyển  dịch  kháng  nguyên  ở  cả  H  và  N,  cúm  A  có  chủng  mới  là  H1N1  gây  đại  dịch.  Năm 2009,  khi  đó  vi  rút  H1N1  có  sự  kết  hợp  mới  các  kháng  nguyên  xuất  hiện  ở  người  bị  nhiễm  và  lan  rộng  nhanh  chóng,  gây  đại  dịch.  Khi  xảy  ra  đột  biến,  đa  số  con  người  chỉ  được  bảo  vệ  rất  ít  hoặc  hoàn  toàn  không  trong  việc  chống  lại  vi  rút  mới.

PHÒNG  NGỪA  CÚM  BẰNG  VẮC  XIN

Như  đã  nói,  phòng  bệnh  cúm  bằng  vắc  xin  gặp  nhiều  khó  khăn  do  vi  rút  cúm  thường  xuyên  biến  đổi  kháng  nguyên.  Nếu  trước  đây  bạn  đã  từng  bị  cúm  thì  trong  cơ  thể  bạn  đã  có  sẵn  các  kháng  thể  có  thể  chống  lại  được  chủng  vi  rút  đặc  hiệu  đó.  Nhưng  các  kháng  thể  chống  lại  cúm  mà  bạn  có  trong  quá  khứ  lại  không  thể  giúp  bạn  tránh  được  các  nhóm  phụ  (còn  gọi  là  các  thứ  loại)  cúm  mới  mà  có  thể  rất  khác  về  mặt  miễn  dịch  với  loại  cúm  bạn  mắc  trước  đó.  Nếu  lần  sau  bạn  lại  mắc  cùng  chủng  cúm,  hoặc  bạn  được  tiêm  chủng  vắc  xin  cúm  mùa  thì  các  kháng  thể  đó  có  thể  giúp  bạn  đề  phòng  được  bệnh  cúm  hoặc  làm  giảm  nhẹ  triệu  chứng.

Mỗi  năm  nhà  sản  xuất  phải  thay  đổi  công  thức  vắc  xin  bằng  cách  thêm  kháng  nguyên  các  chủng  vi  rút  của  mùa  cúm  năm  trước.  Vắc  xin  này  tạo  đáp  ứng  miễn  dịch  không  bền  vững,  sự  bảo  vệ  thường  chỉ  kéo  dài  6  tháng,  nên  cần  tiêm  nhắc  lại  hàng  năm  ngay  trước  mùa  cúm.  Mùa  cúm  thường  là  từ  tháng  10  kéo  dài  đến  tháng  5.  Mọi  người  đều  nên  chủng  ngừa  cúm,  đặc  biệt  là  nhân  viên  y  tế,  những  người  trên  65  tuổi,  trẻ  em  dưới  5  tuổi,  có  bệnh  mạn  tính,  cơ  địa  suy  giảm  miễn  dịch.

NHỮNG  THÔNG  TIN  CẦN  BIẾT  VỀ  CÚM  H1N1

Cúm

GIỚI  THIỆU

Bệnh  cúm  nói  chung  trong  đó  có  cúm  H1N1  là  bệnh  viêm  đường  hô  hấp  cấp  tính  do  vi  rút  cúm  gây  ra  và  có  khả  năng  lây  nhiễm  cao.  Bệnh  có  thể  xảy  ra  ở  mọi  lứa  tuổi  và  thường  xảy  ra  theo  mùa.  Trong  lịch  sử,  có  rất  nhiều  đại  dịch  cúm  làm  chết  hàng  triệu  người.  Ngày  nay  một  số  đối  tượng  như  trẻ  em,  người  già,  phụ  nữ  có  thai  và  một  số  người  mắc  các  bệnh  mạn  tính  vẫn  có  thể  gặp  nguy  hiểm  ngay  cả  khi  bị  nhiễm  cúm  thông  thường.  Cúm  có  nhiều  loại  khác  nhau  trong  đó  có  cúm  H1N1  và  chủng  cúm  này  vẫn  được  xem  là  một  loại  cúm  thông  thường  mặc  dù  thời  gian  qua  đã  gây  ra  một  số  trường  hợp  tử  vong  tại  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh.

CHẨN  ĐOÁN  BỆNH  NHIỄM  CÚM  H1N1

Chẩn  đoán  cúm  chủ  yếu  dựa  vào  triệu  chứng  và  chỉ  định  danh  được  chủng  cúm  bằng  cách  lấy  dịch  mũi-họng  tại  cơ  sở  y  tế  để  xét  nghiệm.

a) Các  triệu  chứng  nhiễm  cúm  chung

Triệu  chứng  có  thể  rất  khác  nhau  giữa  người  này  và  người  khác  nhưng  thường  bao  gồm  các  triệu  chứng  sau:

  • Sốt  (nhiệt  độ  thường  cao  hơn  38ºC)
  • Nhức  đầu  và  đau  cơ
  • Mệt  mỏi,  biếng  ăn
  • Ho  và  đau  họng  cũng  có  thể  gặp

Người  bị  cúm  thường  sốt  2-5  ngày.  Điều  này  khác  với  các  bệnh  do  vi  rút  khác  của  đường  hô  hấp  thường  hết  sốt  sau  24  đến  48  giờ.  Nhiều  người  bị  cúm  có  sốt  và  đau  cơ  và  một  số  người  khác  có  triệu  chứng  cảm  lạnh  như  chảy  mũi  và  đau  họng.  Các  triệu  chứng  cúm  thường  cải  thiện  sau  2-5  ngày  mặc  dù  bệnh  có  thể  kéo  dài  một  tuần  hoặc  hơn.  Các  triệu  chứng  mệt  mỏi  hay  yếu  cơ  có  thể  kéo  dài  hàng  tuần.  Cần  phân  biệt  các  triệu  chứng  của  bệnh  cảm  lạnh  và  cúm  với  bệnh  cúm  theo  bảng  sau:

Triệu  chứng

Cảm  lạnh

Cúm

Sốt

Hiếm

Thường  gặp,  sốt  cao  (trẻ  nhỏ)  và  kéo  dài  3  và  4  ngày

Nhức  đầu

Hiếm

Hay  gặp

Đau  nhức

Nhẹ

Hay  gặp,  đau  nhiều

Mệt  mỏi,  yếu  người

Đôi  khi

Hay  gặp,  có  thể  kéo  dài  2-3  tuần

Kiệt  sức

Không

Hay  gặp,  ngay  từ  khi  bắt  đầu  bệnh

Nghẹt  mũi

Hay  gặp

Đôi  khi

Hắt  hơi

Hay  gặp

Đôi  khi

Đau  họng

Hay  gặp

Đôi  khi

 

Cúm  có  thể  gây  ra  các  biến  chứng  như  viêm  phổi,  viêm  xoang  và  viêm  tai.  Viêm  phổi  hay  gặp  nhất  là  tình  trạng  phổi  bị  nhiễm  trùng  nặng  thường  xảy  ra  ở  trẻ  em,  người  già  trên  65  tuổi  và  những  người  sống  trong  viện  dưỡng  lão  hay  và  những  người  có  mắc  một  số  bệnh  khác  như  đái  tháo  đường,  bệnh  ảnh  hưởng  đến  tim-phổi.  Viêm  phổi  cũng  hay  xảy  ra  ở  người  có  hệ  miễn  dịch  suy  giảm.

b) Xét  nghiệm

  • Xét  nghiệm  chẩn  đoán  căn  nguyên:

+  Real  time  RT-PCR  là  xét  nghiệm  xác  định  vi  rút  cúm  A  (H1N1).  Bệnh  phẩm  là  dịch  ngoáy  họng,  dịch  tỵ  hầu,  dịch  phế  quản  (lấy  càng  sớm  càng  tốt).

+  Nuôi  cấy  vi  rút:  thực  hiện    những  nơi    điều  kiện.

  • Công  thức  máu:  số  lượng  bạch  cầu  bình  thường  hoặc  giảm  nhẹ.
  • X  quang  phổi:  có  thể  có  biểu  hiện  của  viêm  phổi  không  điển  hình.

c) Chẩn  đoán

  • Trường  hợp  nghi  ngờ:  Có  yếu  tố  dịch  tễ,  sốt  và  triệu  chứng  viêm  long  đường  hô  hấp.
  • Trường  hợp  xác  định  đã  mắc  bệnh:  Có  biểu  hiện  lâm  sàng  cúm  và  xét  nghiệm  dương  tính  khẳng  định  nhiễm  vi  rút  cúm  A  (H1N1).
  • Người  lành  mang  vi  rút:  Không  có  biểu  hiện  lâm  sàng  nhưng  xét  nghiệm  có  cúm  A  (H1N1).

Cúm

ĐIỀU  TRỊ  VÀ  PHÒNG  NGỪA  BỆNH  CÚM  H1N1

a) Điều  trị  cúm

Hầu  hết  bệnh  nhân  bị  cúm  tự  hết  sau  1-2  tuần  mà  không  cần  điều  trị.  Tuy nhiên, các biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra. Nên liên hệ đi khám để được đánh giá đầy đủ khi:

  • Cảm  thấy  khó  thở
  • Cảm  thấy  đau  hay  đè  ép  lồng  đau  thắt  ngực
  • Có  dấu  hiệu  mất  nước  như  chóng  mặt  khi  đứng  hay  không  đi  tiểu
  • Thấy  lơ  mơ
  • Nôn  liên  tục  hay  không  thể  uống  đủ  nước

Ở  trẻ  em,  nếu  có  một  trong  các  triệu  chứng  trên  hay  nếu  trẻ  có  các  biểu  hiện  sau  thì  nên  đi  khám:

  • Da  xanh  tái
  • Bứt  rứt  nhiều
  • Khóc  không  có  nước  mắt  (sơ  sinh)
  • Sốt  kèm  nổi  ban
  • Đánh  thức  không  dễ  dàng

Có  nhiều  nhóm  người  có  nguy  cơ  biến  chứng  cao  như  phụ  nữ  có  thai,  trẻ  nhỏ  (<  5  tuổi  và  đặc  biệt  <  2  tuổi),  người  có  bệnh  mạn  tính  như  bệnh  phổi  mạn  (hen  suyễn,  bệnh  phổi  tắc  nghẽn  mạn  tính),  bệnh  tim  mạch,  bệnh  đái  tháo  đường,  suy  giảm  miễn  dịch  (HIV/AIDS,  ghép  tạng)  và  một  số  các  bệnh  khác.  Nếu  bạn  và  con/cháu  bạn  có  triệu  chứng  cúm  và  thuộc  nhóm  có  nguy  cơ  biến  chứng  cao  thì  nên  gặp  nhân  viên  y  tế  để  được  tư  vấn  kịp  thời.

b) Điều  trị  triệu  chứng

Điều  trị  triệu  chứng  cúm  giúp  bạn  cảm  thấy  khỏe  hơn  nhưng  không  thể  giúp  bệnh  cúm  hết  nhanh  hơn.  Nghỉ  ngơi  cho  đến  khi  bình  phục  hoàn  toàn;  đặc  biệt  khi  bệnh  nặng.  Uống  đủ  nước  để  không  bị  mất  nước.  Một  cách  để  xem  mình  đã  uống  đủ  nước  chưa  là  xem  màu  sắc  của  nước  tiểu.  Nước  tiểu  bình  thường  có  màu  trắng  vô  sắc  (không  màu)  hay  màu  vàng  lợt.  Nếu  uống  đủ  nước  thì  bạn  sẽ  đi  tiểu  mỗi  3-5  giờ  một  lần.

c) Điều  trị  bằng  thuốc

+  Acetaminophen  (còn  gọi  là  paracetamol)  có  thể  hạ  sốt,  giảm  nhức  đầu  và  đau  cơ.  Aspirin  cũng  có  thể  giảm  đau  và  hạ  sốt  nhưng  không  được  khuyên  dùng  phổ  biến  vì  nhiều  tác  dụng  phụ.

+  Thuốc  ho  thường  ít  khi  có  ích  và  ho  thường  tự  hết  mà  không  cần  điều  trị.  Không  nên  dùng  thuốc  ho  và  thuốc  cảm  cho  trẻ  dưới  6  tuổi.

+  Thuốc  chống  vi  rút  có  thể  được  dùng  để  điều  trị  hay  phòng  ngừa  cúm,  tuy  nhiên  thuốc  này  không  phổ  biến  ở  nước  ta  và  thường  chỉ  được  dùng  trong  mùa  dịch.  Phần  lớn  người  mắc  cúm  không  cần  phải  sử  dụng  đến  thuốc  này  mà  chỉ  những  người  có  triệu  chứng  nặng  hay  có  nguy  cơ  bị  biến  chứng  cao  mới  được  bác  sĩ  chỉ  định  dùng  thuốc  này.  Các  thuốc  chống  vi  rút  cúm  bao  gồm  oseltamivir  (Tamiflu®)  and  zanamivir  (Relenza®).  Thuốc  chống  vi  rút  có  hiệu  quả  nhất  khi  dùng  trong  48  giờ  đầu.  Theo  phác  đồ  của  Bộ  Y  Tế,  cách  sử  dụng  thuốc  như  sau:  

Oseltamivir  (Tamiflu):

  • Người  lớn  và  trẻ  em  trên  13  tuổi:  75mg  x  2  lần/ngày  x  5  ngày.
  • Trẻ  em  từ  1-13  tuổi:  dùng  dung  dịch  uống  tuỳ  theo  trọng  lượng  cơ  thể

+  <  15  kg:  30  mg  x  2  lần/ngày  x  5  ngày.

+  16  -  23  kg:  45  mg  x  2  lần/ngày  x  5  ngày.

+  24  -  40  kg:  60  mg  x  2  lần/ngày  x  5  ngày.

+  >  40  kg:  75  mg  x  2  lần/ngày  x  5  ngày.

  • Trẻ  em  dưới  12  tháng:

+  <  3  tháng:  12  mg  x  2  lần/ngày  x  5  ngày.

+  3  -  5  tháng:  20  mg  x  2  lần/ngày  x  5  ngày.

+  6  -  tháng:  25  mg  x  2  lần/ngày  x  5  ngày.

Zanamivir:  dạng  hít  định  liều.  Sử  dụng  trong  các  trường  hợp:  Không  có  oseltamivir,  trường  hợp  chậm  đáp  ứng  hoặc  kháng  với  oseltamivir.

  • Người  lớn  và  trẻ  em  trên  7  tuổi:  2  lần  xịt  5mg  x  2  lần/ngày.
  • Trẻ  em:  Từ  5-7  tuổi:  2  lần  xịt  5  mg  x  1  lần/ngày.

+  Trường  hợp  nặng  có  thể  kết  hợp  oseltamivir  và  zanamivir.

+  Trường  hợp  đáp  ứng  chậm  với  thuốc  kháng  vi  rút:  thời  gian  điều  trị  có  thể  kéo  dài  đến  khi  xét  nghiệm  hết  vi  rút.

+  Cần  theo  dõi  chức  năng  gan,  thận  để  điều  chỉnh  liều  lượng  cho  phù  hợp.

+  Kháng  sinh  không  phải  là  thuốc  dùng  để  chữa  bệnh  do  vi  rút  như  cúm.  Kháng  sinh  chỉ  nên  dùng  khi  có  biến  chứng  nhiễm  trùng  như  viêm  phổi,  nhiễm  trùng  tai  hay  viêm  xoang.  Dùng  kháng  sinh  không  đúng  có  thể  gây  hại  như  bị  tác  dụng  phụ  của  thuốc  và  tạo  ra  vi  trùng  kháng  thuốc.

+  Các  điều  trị  khác  ngoài  tây  y  -  Có  nhiều  cách  điều  trị  cúm  ngoài  tây  y  như  sử  dụng  cây  cỏ,  đông  y,  gia  truyền  Tuy  nhiên  vì  chưa

có  các  nghiên  cứu  hợp  lý  nên  khó  đánh  giá  hiệu  quả  cũng  như  tính  an  toàn  của  các  phương  pháp  điều  trị  này.

Cúm

 

PHÒNG  NGỪA  LÂY  NHIỄM  CÚM

Bệnh  cúm  mùa  là  bệnh  truyền  nhiễm  cấp  tính  với  biểu  hiện  sốt,  sổ  mũi,  đau  họng,  đau  đầu,  đau  cơ,  mệt  mỏi.  Tác  nhân  gây  bệnh  chủ  yếu  do  các  chủng  vi  rút  cúm  A(H3N2),  cúm  A(H1N1)  và  cúm  B.  Bệnh  có  khả  năng  lây  nhiễm  rất  cao,  qua  đường  hô  hấp,  qua  các  giọt  nhỏ  nước  bọt  hay  dịch  tiết  mũi  họng  do  hắt  hơi,  ho  khạc.  Thời  gian  lây  truyền  thường  là  trước  khởi  phát  1  ngày  đến  ngày  thứ  7.  Thông  thường  bệnh  diễn  biến  nhẹ  và  hồi  phục  trong  vòng  7  ngày,  nhưng  đối  với  trẻ  em,  người  lớn  tuổi,  người  có  bệnh  mạn  tính  về  tim  phổi,  thận,  bệnh  chuyển  hóa,  thiếu  máu  hoặc  suy  giảm  miễn  dịch....  Bệnh  có  thể  diễn  biến  nặng  hơn,  dễ  bị  biến  chứng  và  có  thể  dẫn  đến  tử  vong.

Năm  2015,  Trung  tâm  Phòng  ngừa  và  Kiểm  soát  bệnh  Hoa  Kỳ  đưa  ra  3  bước  để  chống  lại  bệnh  cúm  mùa,  bao  gồm:

  • Bước  1:  Chủng  ngừa  cúm  hàng  năm
  • Bước  2:  Ngăn  chặn  lây  nhiễm  vi  rút.
  • Bước  3:  Điều  trị  thuốc  kháng  vi  rút.

Bài  viết  này  chủ  yếu  tập  trung  vào  bước  2:  ngăn  chặn  sự  lây  truyền  vi  rút.

ĐẠI  CƯƠNG  VỀ  VI  RÚT  CÚM

Vi  rút  cúm  (Influenza  virus)  thuộc  nhóm  Orthomyxoviridae  và  được  chia  thành  3  týp  A,  B  và  C.  Vỏ  của  vi  rút  bản  chất  là  glycoprotein  bao  gồm  2  kháng  nguyên:  Kháng  nguyên  ngưng  kết  hồng  cầu  H  (Hemagglutinin)  và  kháng  nguyên  trung  hòa  N  (Neuraminidase).  Có  15  loại  kháng  nguyên  H  (H1-H15)  và  9  loại  kháng  nguyên  N  (N1-N9).  Những  cách  tổ  hợp  khác  nhau  của  hai  loại  kháng  nguyên  này  tạo  nên  các  phân  týp  khác  nhau  của  vi  rút  cúm  A.

Vi  rút  cúm  có  sức  đề  kháng  yếu,  dễ  bị  bất  hoạt  bởi  bức  xạ  mặt  trời,  tia  tử  ngoại,  các  chất  hòa  tan  lipid  như  cồn,  ether,  formol,  chloramine…Vi  rút  cúm  cũng  dễ  bị  tiêu  diệt  bởi  nhiệt  độ  560C  trong  vài  chục  phút  và  các  chất  có  tính  acid  (vi  rút  thường  mất  tính  lây  nhiễm  ở  pH<4,5).

ĐƯỜNG  LÂY  TRUYỀN  CỦA  VI  RÚT  CÚM:  ĐƯỜNG  GIỌT  BẮN  HAY  KHÔNG  KHÍ?

Tổ  chức  Y  tế  Thế  giới  và  Trung  tâm  Phòng  ngừa  và  Kiểm  soát  bệnh  Hoa  Kỳ  vẫn  coi  cúm  lây  qua  đường  giọt  bắn,  tức  là  qua  các  hạt  có  kích  thước

>  5µm.  Tuy  nhiên  có  nhiều  nghiên  cứu  cho  thấy  vi  rút  cũng  xuất  hiện  trong  các  hạt  nhỏ  hơn.

Các  nghiên  cứu  cho  thấy  RNA  vi  rút  có  thể  tìm  thấy  ở  cả  các  hạt  >  5  µm  và  <  5  µm.  Cụ  thể  75,5%  vi  rút  xuất  hiện  trong  các  hạt  kích  thước  1-4  µm,  19,5%  trong  các  hạt  <  1  µm  và  5%  trong  các  hạt  >  5µm.  Đặc  biệt  khi  làm  các  thủ  thuật  xâm  lấn  đường  thở  (như  hút  đàm,  đặt  nội  khí  quản…)  số  lượng  các  hạt  khí  dung  nhỏ  tăng  lên.  Tính  toán  theo  định  luật  Stoke,  các  hạt  >  5µm  cần  67  phút  để  lắng  xuống  từ  độ  cao  3m.  Lindsley  và  cộng  sự  cho  rằng  các  hạt  ≥  4µm  cần  3  phút  để  lắng  xuống  từ  độ  cao  1  mét,  các  hạt  1  µm  cần  tới  8  giờ,  và  trong  điều  kiện  không  khí  bị  xáo  trộn,  thời  gian  này  còn  lâu  hơn.

Chính  vì  vậy,  có  thể  coi  vi  rút  cúm  lây  qua  cả  đường  giọt  bắn  và  đường  không  khí  (droplet  and  airborne).  Từ  đó  có  thể  suy  ra  các  biện  pháp  phòng  ngừa  lây  nhiễm  sau:

  • Cách  ly  người  bệnh:  người  bệnh  cần  được  nằm  phòng  riêng.  Đối  với  người  bệnh  cơ  địa  khỏe  mạnh,  theo  dõi  tại  nhà,  ở  phòng  riêng  thì  cần  để  cửa  phòng  thông  thoáng.  Thời  gian  cách  ly:  7  ngày  từ  khi  khởi  phát  triệu  chứng.
  • Hạn  chế  tiếp  xúc  gần  người  bệnh,  đặc  biệt  là  trẻ  em,  phụ  nữ  mang  thai,  người  có  bệnh  mạn  tính.  Tiếp  xúc  gần  được  định  nghĩa  là  tiếp  xúc  trong  phạm  vi  bán  kính  2  mét  hay  ở  chung  phòng  người  bệnh  trong  thời  kỳ  lây  truyền.
  • Cho  người  bệnh  mang  khẩu  trang  y  tế.  Khẩu  trang  y  tế  giúp  làm  giảm  sự  phát  tán  các  hạt  khí  dung  khi  người  bệnh  nói  chuyện.
  • Khi  ho,  hắt  hơi,  cần  phải  che  mũi,  miệng  bằng  khăn  giấy  và  ngay  lập  tức  bỏ  khăn  giấy  vào  thùng  rác  ‘lây  nhiễm’.  Nếu  không  có  khăn  giấy,  hắt  hơi  vào  mặt  trong  khuỷu  tay,  không  dùng  bàn  tay.
  • Nhân  viên  y  tế  mang  khẩu  trang  N95  (loại  khẩu  trang  giữ  lại  được  ít  nhất  là  95%  các  hạt  rất  nhỏ  -  0,3  micron)  khi  chăm  sóc  người  bệnh,  đặc  biệt  khi  làm  thủ  thuật  xâm  lấn  đường  thở  như  hút  đàm,  đặt  nội  khí  quản…

VI  RÚT  CÚM  SỐNG  BAO  LÂU  NGOÀI  MÔI  TRƯỜNG?

Sau  khi  phát  tán  ra  môi  trường  từ  người  bệnh,  các  giọt  bắn  lớn  sẽ  rơi  xuống  trong  bán  kính  khoảng

1  -  2  m.  Các  hạt  khí  dung  nhỏ  hơn  sẽ  dần  lắng  xuống  và  bám  trên  các  bề  mặt.  Trên  bề  mặt  môi  trường  cứng,  không  có  lỗ  (như  gỗ,  kim  loại)  thì  vi  rút  cúm  sống  được 24-48  giờ,  và  có  khả  năng  lây  qua  bàn  tay  trong  vòng  24  giờ.  Trên  bề  mặt  môi  trường  có  lỗ  (như  đồ  vải  hoặc  giấy),  vi  rút  cúm  sống  được  8-12  giờ,  khả  năng  lây  qua  bàn  tay  trong  vòng  15  phút.

Khả  năng  sống  trên  bàn  tay  của  vi  rút  cúm,  theo  tác  giả  Bean  và  cộng  sự  là  5  phút.  Theo  tác  giả  Thomas,  vi  rút  cúm  sống  trên  ngón  tay  tới  30  phút.  Như  vậy,  nếu  như  bàn  tay  một  người  chạm  vào  các  bề  mặt  môi  trường  có  vi  rút,  sau  đó  đưa  lên  niêm  mạc  (mắt,  mũi,  miệng)  thì  hoàn  toàn  có  khả  năng  bị  nhiễm  vi  rút  cúm.  Đây  chính  là  đường  lây  thứ  ba  của  vi  rút  cúm:  đường  tiếp  xúc  (contact).  Tiếp  xúc  có  thể  là  trực  tiếp  qua  bàn  tay  hoặc  gián  tiếp  qua  bề  mặt  vật  dụng  bị  nhiễm  vi  rút.

Từ  cơ  sở  đó,  các  biện  pháp  phòng  ngừa  có  hiệu  quả  là:

  • Tuân  thủ  triệt  để  vệ  sinh  tay  5  thời  điểm.  Đây  chính  là  biện  pháp  đơn  giản  mà  hữu  hiệu  nhất  trong  việc  chặn  đường  lây  qua  tiếp  xúc  của  vi  rút  cúm.  Sát  khuẩn  tay  nhanh  với  cồn  (nồng  độ  ít  nhất  60%)  hoặc  rửa  tay  với  nước  và  xà  phòng  đều  rất  hiệu  quả  trong  loại  bỏ  vi  rút  cúm  trên  bàn  tay.
  • Không  đưa  tay  lên  mắt,  mũi,  miệng.  Niêm  mạc  chính  là  ngõ  vào  của  vi  rút  cúm.
  • Vệ  sinh  tăng  cường  môi  trường  bề  mặt  nhằm  làm  giảm  số  lượng  vi  rút  sống  trên  các  bề  mặt  môi  trường.  Vì  vi  rút  dễ  dàng  bị  tiêu  diệt  bởi  các  hóa  chất  sát  khử  khuẩn  thông  thường,  nên  có  thể  dùng  các  chất  tẩy  rửa  (Javel,  Chloramin  B…)  để  vệ  sinh  bề  mặt  môi  trường.
  • Khi  xử  lý  đồ  vải  nghi  nhiễm  vi  rút,  cần  mang  găng  tay  bảo  hộ.  Không  giũ  tung  đồ  vải.  Giặt  sấy  đồ  vải  với  chế  độ  nhiệt  và  hóa  chất  dành  cho  đồ  vải  nhiễm  (ngâm  30  phút  ở  700C).
 

Nguồn: BS Phạm Minh Tiến, TS BS  Huỳnh  Minh  Tuấn, ThS  BS  Nguyễn  Như  Vinh – Tạp chí sống khỏe - Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

Xem thêm các bài viết về bệnh tại đây.

Đang xem: CÚM H1N1 VÀ PHÒNG NGỪA LÂY NHIỄM CÚM

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng