Chuyên mục sức khoẻ

ĐAU LƯNG THẤP - RỦI RO VÀ NGUY CƠ

ĐAU LƯNG THẤP - RỦI RO VÀ NGUY CƠ

Đau lưng là một cảm giác phiền toái phổ biến. Hầu hết mọi người lớn đều có những lúc nào đó bị đau lưng thấp ở các mức độ khác nhau khiến họ phải đi khám thầy thuốc, đó là nguyên nhân thường gặp nhất của mất khả năng làm việc và mất ngày công. Trong một điều tra lớn, có tới ¼ số người lớn cho biết bị đau lưng thấp trong 3 tháng trước đó.

Đa số đau lưng thấp là cấp tính hoặc ngắn hạn, và chỉ kéo dài từ vài ba ngày đến vài ba tuần. Đa số trường hợp do nguyên nhân cơ học, thường tự khỏi và không để lại dư chứng gì về chức năng.

Đau lưng thấp bán cấp được định nghĩa là đau kéo dài 1 đến 3 tháng.

Đau lưng thấp mạn tính được định nghĩa là đau từ 3 tháng trở lên, do chấn thương hay do một căn nguyên nào khác đã được điều trị. Khoảng 20% đau lưng thấp cấp tính chuyển thành mạn tính với các triệu chứng kéo dài khoảng 1 năm. Đau lưng thấp mạn tính có thể điều trị khỏi nhưng cũng có thể kéo dài dai dẳng.

Đau lưng thấp trở thành một gánh nặng ngày một tăng trong những năm gần đây. Năm 1990, một nghiên cứu ở hoa kỳ cho biết đau lưng thấp đứng hàng thứ sáu trong số các bệnh nặng (sức khỏe xấu, có thể tử vong); năm 2010, đau lưng thấp xếp lên hàng thứ ba, chỉ sau bệnh tim thiếu máu và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

CÁC CẤU TRÚC CHÍNH CỦA LƯNG

Nơi hay bị đau nhất ở lưng là đoạn lưng thấp, gồm 5 đốt sống thắt lưng (TL1-TL5) gánh chịu sức nặng của phần trên cơ thể. Giữa các đốt sống là các đĩa liên đốt sống (tức các đĩa đệm) có tính đàn hồi làm giảm sốc cho suốt dọc cột sống khi vận động. Các dây chằng giữ cho đốt sống ở nguyên vị trí, và các gân gắn các cơ với cột sống. Ba mươi mốt đôi dây thần kinh tủy sống chỉ huy các vận động của cơ thể và dẫn truyền các tín hiệu từ cơ thể về não.

đau lưng thấp rủi ro và nguy cơ

NGUYÊN NHÂN ĐAU LƯNG THẤP

Tuyệt đại đa số đau lưng thấp là do nguyên nhân cơ học. Trong đa số trường hợp, đau lưng thấp kết hợp với viêm đốt sống, một thuật ngữ chỉ sự thoái hóa nói chung của các đốt sống kết hợp với thương tổn các đĩa đệm khi người ta già đi. Một số ví dụ về các nguyên nhân cơ học của đau lưng thấp:

•       Căng dây chằng và căng  gân hay căng cơ trong đa số đau lưng thấp. Khi bị kéo căng quá mức, các thành phần này có thể bị rách hay đứt. Xảy ra do xoắn vặn hay khi nâng một vật không đúng qui cách hoặc vật quá nặng, hay căng duỗi quá mức.

•       Thoái hóa hoặc thương tổn các đĩa đệm là các nguyên nhân cơ học hay gặp nhất của đau lưng thấp. Khi lưng khỏe mạnh, các đĩa đệm giúp giữ chiều cao và cho phép cúi, gấp, và xoay lưng thấp. Khi đĩa đệm thoái hóa (ví dụ do tuổi tác, hoặc khi bị vỡ hay thoát vị), người ta bị đau lưng thấp và các động tác nói trên sẽ bị ảnh hưởng.

•       Bệnh lý rễ là tình trạng gây ra bởi chèn ép, viêm và/hay tổn thương của rễ thần kinh tủy sống gặp trong hẹp cột sống, thoát vị hay vỡ đĩa đệm. Dây thần kinh bị chèn ép đưa đến đau, tê bì, hoặc có cảm giác ngứa ran lan tới các vùng của cơ thể chi phối bởi dây thần kinh đó.

•       Đau thần kinh tọa là một dạng bệnh lý rễ do chèn ép vào thần kinh tọa, là một dây thần kinh lớn đi qua mông xuống đến phía sau cẳng chân. Sự chèn ép này gây ĐAU LƯNG THẤP như bỏng rát kết hợp với đau xuyên qua mông và xuống một cẳng chân, có khi xuống đến bàn chân.

•       Trượt đốt sống là tình trạng một đốt sống đoạn thắt lưng-cùng bị trượt ra trước, có thể chèn ép vào tủy sống và các rễ dây thần kinh gây đau, tê bì một hay hai chân, đôi khi làm cho mất tự chủ bàng quang và ruột.

•       Tổn thương do chấn thương ví dụ do chơi thể thao, tai nạn xe cộ hay té ngã gây tổn thương cho các gân, dây chằng hay cơ gây ra đau lưng thấp. Chấn thương nặng có thể đưa đến vỡ hay thoát vị đĩa đệm gây chèn ép dây thần kinh gây ra đau lưng và đau thần kinh tọa.

•       Hẹp cột sống chèn ép lên tủy sống và các dây thần kinh gây đau hoặc tê bì khi đi lại và lâu dần cẳng chân bị yếu và mất cảm giác.

•       Các bất thường của bộ xương như vẹo hay cong gù cột sống thường không gây đau cho đến tuổi trung niên; tật ưỡn lưng, nặng hơn ở lưng thấp; và các bất thường bẩm sinh khác của cột sống.

Đau lưng thấp ít khi liên quan đến các bệnh nghiêm trọng khác, nhưng khi có thì phải chú ý ngay: các nhiễm trùng liên quan đến nhiều đốt sống (viêm xương-tủy xương, viêm các đĩa đệm, hay viêm khớp cùng-chậu); các khối u ở lưng thường là ung thư lan rộng từ nơi khác đến; các túi phình động mạch chủ bụng (khi to ra và có nguy cơ vỡ); đặc biệt là hội chứng đuôi ngựa, là một biến chứng nghiêm trọng nhưng hiếm gặp của vỡ đĩa đệm (xảy ra khi một mảnh đĩa đệm bị đẩy vào ống sống và ép vào bó rễ thần kinh thắt lưng-cùng gây ra mất tự chủ của bàng quang và ruột).

Các bệnh cơ bản khác có thể đưa đến đau lưng thấp bao gồm: viêm xương-khớp các loại, bệnh loãng xương, viêm nội mạc tử cung phát triển ra ngoài tử cung, hội chứng đau xơ-cơ.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA ĐAU LƯNG THẤP

Sau các bệnh cơ bản, một số các nguy cơ khác có thể gây đau lưng thấp bao gồm:

Tuổi: Các cơn đau lưng thấp đầu tiên thường gặp ở tuổi từ 30 đến 50, và trở nên thường gặp hơn ở tuổi lớn. Khi người ta già, dễ bị: loãng xương, gãy xương, giảm trương lực cơ, các đĩa đệm mất dịch và mất độ mềm dẻo, tăng nguy cơ hẹp cột sống.

Độ thích hợp: Đau lưng hay gặp hơn ở những người thể lực kém, lưng yếu và các cơ bụng yếu không thể nâng đỡ tốt cho cột sống. Người tập thể dục không thường xuyên cũng dễ bị đau lưng hơn người tập đều. Thể dục nhịp điệu ít va chạm cũng có ích cho duy trì sự toàn vẹn các đĩa đệm.

Mang thai thường bị đau lưng thấp, do những thay đổi ở tiểu khung và những biến đổi do tăng trọng. Hầu hết các triệu chứng sẽ hết sau sinh. Tăng trọng: có thể gây căng thẳng cho lưng và đưa đến đau lưng thấp.

Di truyền: Vài nguyên nhân của đau lưng như viêm đốt sống cứng khớp, có yếu tố của di truyền, làm hạn chế vận động cột sống.

Các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp: Công việc phải nâng, kéo, đẩy các vật nặng, nhất là khi phải xoay vặn hay chuyển động cột sống, có thể gây ra các tổn thương và đau lưng. Các nghề ít hoạt động hoặc ngồi suốt ngày trên ghế, nhất là khi ngồi sai tư thế hay không được chống đỡ lưng phù hợp cũng có thể bị đau lưng.

Tình trạng tinh thần: Các yếu tố tinh thần như lo lắng, trầm uất hay căng thẳng cũng có thể gây ra căng cơ và đau lưng.

Túi đeo lưng quá nặng ở trẻ em: Ở Hoa Kỳ người ta khuyến cáo túi đeo lưng cho trẻ nhỏ không được quá 15-20% cân nặng của đứa bé.

CHẨN ĐOÁN BÊNH ĐAU LƯNG THẤP

Cần khai thác chi tiết một bệnh sử và thăm khám đầy đủ về y tế. Thăm khám lưng kỹ lưỡng và các khám nghiệm thần kinh để xác định nguyên nhân đau và điều trị thích hợp. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh đau lưng có thể tóm tắt như sau: đau cơ, đau lan xuống chân, hạn chế độ linh hoạt, ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày, không có khả năng đứng thẳng lưng.

Hầu hết đau lưng từng bước cải thiện với điều trị tại nhà và tự chăm sóc. Đau lưng như thế nào thì cần phải đi khám thầy thuốc: đau lưng không giảm hoặc cường độ cao, đặc biệt là vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc khi đi lại; đau lưng lan xuống một hoặc cả hai chân, nhất là khi cơn đau kéo xuống dưới đầu gối; yếu, tê hoặc ngứa ran ở một chân hoặc cả hai; rối loạn tiêu tiểu; đau lưng kèm với sốt, sụt cân không giải thích được.

Các hình ảnh học thường khó xác định nguyên nhân cho đa số các trường hợp. Tuy nhiên trong một số trường hợp, hình ảnh học có thể giúp loại trừ các nguyên nhân đặc hiệu của đau, kể cả các khối u và hẹp ống sống. Các hình ảnh học và các khám nghiệm khác bao gồm:

-       X quang phát hiện xương đốt sống bị gãy hay bị các thương tổn khác, kể cả ác tính.

-       Chụp cộng hưởng từ (MRI) ngoài cấu trúc xương còn cho thấy hình ảnh các mô mềm như các cơ, các gân, các dây chằng và các mạch máu. MRI có thể chỉ định khi có các vấn đề như nhiễm trùng, u, viêm, thoát vị hay vỡ đĩa đệm, hay khi có nghi ngờ dây thần kinh bị chèn ép. Các chẩn đoán điện trong đau lưng thấp lúc đầu được sử dụng để xác định có hay không một bệnh lý của rễ thắt lưng. Các phương pháp bao gồm đo điện cơ, khảo sát dẫn truyền thần kinh, và khảo sát điện thế gọi lên (cách đo: dùng một nhóm điện cực kích thích thần kinh cảm giác và một nhóm khác đặt trên hộp sọ để đo tốc độ dẫn truyền tín hiệu thần kinh đi lên tới não).

-       Xạ hình xương để phát hiện các bệnh của xương. Một lượng nhỏ chất phóng xạ đưa vào máu, tập trung ở các xương, nhất là ở các vùng có một số bất thường. Giúp nhận diện các vùng đặc biệt có chuyển hóa xương không đều hay có dòng máu bất thường, cũng như để đo các mức độ của bệnh khớp.

- Các xét nghiệm máu không dùng thường qui để chẩn đoán nguyên nhân đau lưng. Tuy nhiên có một số chỉ định như: viêm, nhiễm trùng, viêm khớp, bao gồm: đếm máu, thời gian lắng máu, C-reactive protein

ĐIỀU TRỊ ĐAU LƯNG THẤP

Hầu hết đau lưng sẽ khỏi dần sau điều trị tại nhà một vài tuần. Sử dụng thuốc giảm đau, thuốc giãn cơ kết hợp vật lý trị liệu và tập thể dục.

Nếu không giảm đau và nếu cơn đau lan xuống chân, bác sĩ có thể tiêm thuốc phong bế thần kinh hai chân giúp giảm đau.

Phẫu thuật chỉ có hiệu quả cho những bệnh nhân bị chèn ép thần kinh nặng không đáp ứng với điều trị thuốc và vật lý trị liệu, hoặc các u tủy sống…

Ngoài ra còn những phương pháp trị liệu khác có hiệu quả nhất định như: bấm huyệt, châm cứu, xoa bóp, thư giãn và Yoga.

Các điều trị qui ước bao gồm: Chườm nóng hay chườm lạnh chưa bao giờ được chứng tỏ là giải quyết nhanh tổn thương của lưng thấp; tuy vậy có thể làm cho đau dễ chịu hơn và giảm viêm cho người bị đau cấp, bán cấp hay mạn, giúp vận động tốt hơn.

Hoạt động: Cần hạn chế nghỉ tại giường. Cần bắt đầu các bài tập giãn gân cốt, trở lại các vận động hàng ngày càng sớm càng tốt, nhưng cần tránh các động tác làm cho đau tăng hơn. Nằm nghỉ tại giường liên tục có thể làm cho đau lưng nặng hơn và có thể đưa đến các biến chứng thứ phát như trầm cảm, giảm trương lực cơ, và đông máu cẳng chân.

Các bài tập tăng cường, ngoài các hoạt động chung hàng ngày, không khuyến cáo cho đau lưng thấp cấp tính, nhưng có thể hiệu quả giúp hồi phục nhanh các đau lưng thấp mạn tính hay bán cấp. Các bài tập giúp duy trì sức mạnh và thăng bằng cơ, cải thiện sự phối hợp động tác và giữ dáng người thích hợp. Các bài tập yoga ngắn hoặc dài cũng làm cho đau lưng thấp mạn tính dễ chịu hơn.

Điều trị vật lý đề ra chương trình tăng cường các nhóm cơ chính nâng đỡ lưng thấp, cải thiện tính di động và tính mềm dẻo, xúc tiến tư thế và dáng bộ thích hợp.

Các thuốc:

•       Các thuốc giảm đau: Không cần toa như acetaminophen và aspirin. Các thuốc kê toa là các opioids như codeine, oxycodone, hydrocodone, và morphine.

•       Các kháng viêm không steroid (NSAIDs) giảm nhẹ đau và viêm. Không cần toa như: ibuprofen, ketoprofen, và naproxen sodium. Cần toa như: các thuốc ức chế COX-2.

PHÒNG CHỐNG ĐAU LƯNG

Có thể đề phòng đau lưng tái phát bằng cách tránh các động tác làm xóc nảy hay kéo căng vùng lưng, giữ tư thế đúng, và nâng cao các đồ vật đúng cách. Nhiều thương tổn do nghề nghiệp như nâng vật nặng, một cử động lặp đi lặp lại, và tư thế vụng về.

Vận động thích hợp: tập thể dục, đi bộ, bơi lội, đi xe đạp 30 phút mỗi ngày là những lựa chọn tốt, giúp tăng sức mạnh và độ mềm dẻo của cơ. Bỏ hút thuốc lá, giảm cân, giữ tư thế đúng khi đứng và ngồi. Sử dụng các thứ giúp chống đỡ lưng để trợ giúp vùng lưng thấp và các cơ bụng, nhất là ở người lớn tuổi và nữ giới.

--

Các thuật ngữ chuyên môn Anh-Việt sử dụng trong bài:

Cảm giác ngứa ran (tinging sensation), căng dây chằng (sprains), căng gân hay cơ (strains), chẩn đoán điện (electrodiagnostics), chụp tủy sống (myelograms), đau Xơ-cơ (fibromyalgia), đo điện-cơ (electromyography) - emg, hội chứng đuôi ngựa (cauda equina syndrome), khảo sát dẫn truyền thần kinh (nerve conduction studies – ncs), khảo sát điện thế gọi lên (evoked potential studies – ep), trượt đốt sống (spondylolisthesis), xạ hình xương (bone scans).

--
(Nguồn: TS BS Nguyễn Minh Anh - Tạp Chí Sống Khoẻ - Bệnh viện ĐH Y Dược TP.HCM)

Xem thêm các bài viết hữu ích khác tại đây

Đang xem: ĐAU LƯNG THẤP - RỦI RO VÀ NGUY CƠ

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng