Chuyên mục sức khoẻ

TÌM HIỂU VỀ BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN

TÌM HIỂU VỀ BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN

Bệnh động mạch ngoại biên (BĐMNB) là tình trạng hẹp của các động mạch ngoại biên của chân, tay, một số nội tạng hay của đầu mà thường gặp nhất là hẹp các động mạch của cẳng chân. Bệnh này không bao gồm các động mạch chi phối cho tim hay não (hai trường hợp này được gọi là bệnh động mạch vành và bệnh mạch máu não). Hẹp động mạch ngoại biên của cẳng chân có triệu chứng kinh điển là đau cẳng chân khi đi lại, sẽ hết khi dừng lại nghỉ, triệu chứng này được gọi là chứng khập khiễng cách hồi. Không điều trị, bệnh sẽ nặng dần và sẽ xuất hiện các triệu chứng khác với các biến chứng phức tạp, đặc biệt là nhiễm trùng và hoại tử mô phải cắt đoạn chi. Có tới 50% trường hợp BĐMNB không có triệu chứng.

Tỷ lệ BĐMNB trong dân số chung là  12- 14%. Năm 2010, trên thế giới có  khoảng 202 triệu người  mắc  BĐMNB.  Có  tới  1/3 số người đái tháo đường ở tuổi trên 50 mắc BĐMNB. Ở người mắc  BĐMNB,  các  cơn đau tim hay đột quỵ gặp nhiều hơn 4-5 lần so với những người không mắc.

1. TRIỆU CHỨNG

ĐAU KHẬP KHIỄNG

Trong khi nhiều người mắc BĐMNB có các triệu chứng nhẹ hoặc không có thì một số bị đau cẳng chân khi đi lại (đau khập khiễng).

Các triệu chứng đau khập khiễng bao gồm đau cơ hay chuột rút (vọp bẻ) ở các cẳng chân hay cánh tay xảy ra sau hoạt động, ví dụ sau đi lại, nhưng sẽ hết sau khi nghỉ mấy phút. Vị trí đau tùy thuộc vào vị trí của động mạch bị tắc hay hẹp. Hay gặp nhất là ở bắp chân. Độ nặng của đau khập  khiễng  rất  thay đổi.

CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA BĐMNB BAO GỒM:

  • Đau kiểu chuột rút các cơ ở háng, đùi hay bắp chân sau các vận động, ví dụ đi  lại  hay  leo  bậc thang (đau khập khiễng)
  • Tê bì hay yếu cẳng chân
  • Lạnh phía dưới cẳng chân hay bàn chân, đặc biệt khi so sánh với bên kia
  • Nhức nhối các ngón chân, bàn chân  hay  cẳng chân liên miên
  • Cẳng chân đổi màu
  • Rụng hay mọc chậm lông bàn chân và cẳng chân
  • Mọc chậm hơn các móng chân
  • Da cẳng chân bóng
  • Không có mạch hay mạch yếu ở cẳng chân hay bàn chân
  • Chức năng cương rối loạn ở đàn ông

Khi BĐMNB tăng lên, đau có thể  gặp  cả  khi  nghỉ hay khi nằm (đau khi nghỉ do thiếu máu). Có thể đau nhiều làm mất ngủ. Thõng chân ra ngoài giường hay đi lại quanh phòng có thể tạm thời hết đau.

KHI NÀO CẦN KHÁM BÁC SĨ

Khi bạn bị đau cẳng chân, tê bì hay các triệu chứng khác, đừng cho đó là chuyện bình thường do tuổi tác.

Ngay cả khi bạn không có triệu chứng của BĐMNB, bạn có thể cần được tầm soát khi bạn:

  • Tuổi trên 70
  • Tuổi trên 50 và có bệnh sử đái tháo đường hay hút thuốc
  • Tuổi dưới 50, nhưng bị đái tháo đường hay có các yếu tố nguy cơ khác của BĐMNB, ví dụ béo phì hay cao huyết áp.

2. NGUYÊN NHÂN

PHÁT TRIỂN CỦA XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH

BĐMNB thường gây ra bởi xơ vữa. Trong xơ vữa, các lắng đọng mỡ (các mảng) bên trong thành các động mạch làm giảm dòng máu. Mặc dù tim thường là trung tâm thảo luận của xơ vữa, bệnh này cũng thường ảnh hưởng đến các động mạch ở khắp cơ thể bạn. Khi nó xảy ra cho các động mạch cung cấp máu cho các chi, nó sẽ gây ra BĐMNB.

Ít gặp hơn, nguyên nhân của BĐMNB có thể do viêm mạch máu, tổn thương các chi, giải phẫu không bình thường của các dây chằng hay các cơ, hay phơi nhiễm phóng xạ.

BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Bao gồm:

  • Hút thuốc
  • Đái tháo đường
  • Béo phì (chỉ số khối cơ thể trên 30)
  • Cao huyết áp
  • Cholesterol cao
  • Tuổi cao dần, nhất là sau tuổi 50
  • Gia đình có người bị BĐMNB, bệnh tim hay đột quỵ
  • Nồng độ cao homocysteine, một thành phần protein giúp tạo ra và duy trì mô

3. CÁC BIẾN CHỨNG

Khi bạn bị BĐMNB do các mảng ở thành mạch (xơ vữa), bạn cũng có nguy cơ bị:

  • Thiếu máu chi đáng kể. Bệnh khởi đầu bằng các cơn đau không khỏi, tổn thương hay nhiễm trùng bàn chân hay cẳng chân. Nhiễm trùng có thể đưa đến hoại thư, đôi khi phải đoạn chi.
  • Đột quỵ và cơn đau tim do mỡ lắng đọng tại các động mạch nuôi tim và não, thường gặp hơn ở những người bị BĐMNB.

4. CHẨN ĐOÁN

Khi nghi ngờ, việc đầu tiên phải làm là đo chỉ số áp lực cổ chân-cánh tay (CSCC-CT). Khi huyết áp ở cổ chân thấp hơn ở cánh tay, nghi ngờ có tắc nghẽn các động mạch đi từ tim xuống cẳng chân. CSCC-CT bình thường từ 1,00 đến 1,40. Bệnh nhân được chẩn đoán là BĐMNB khi CSCC-CT ≤ 0,90. CSCC-CT từ 0,91 đến 0,99 được coi là ranh giới và các trị số > 1,40 cho biết là các động mạch không thể nén được do vôi hóa nặng. BĐMNB được phân ra từ nhẹ đến trung bình khi CSCC-CT từ 0,41 đến 0,90 và khi CSCC-CT < 0,40 thì gợi ý một BĐMNB nặng. Các giá trị này có ý nghĩa tiên lượng.

BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN

Ở người nghi ngờ BĐMNB nhưng CSCC-CT khi nghỉ bình thường, cần đo CSCC-CT khi tập. Đường cơ sở của CSCC-CT lấy trước khi tập. Sau đó cho bệnh nhân tập (thường là đi trên máy tập với tốc độ không đổi) cho đến khi bị khập khiễng (hoặc sau đi tối đa 5 phút), sau đó đo lại huyết áp cổ chân. Nếu CSCC-CT giảm 15% - 29% thì là có BĐMNB.

Nếu CSCC-CT không bình thường thì có thể làm thêm: khảo sát siêu âm Doppler, chụp động mạch, chụp hệ động mạch cắt lớp (CT), chụp động mạch cộng hưởng từ (MRA) cho chi dưới để xác định vị trí cùng hình ảnh các chỗ trít hẹp của động mạch.

5. PHÂN LOẠI

Bệnh tắc động mạch ngoại biên thường chia ra các giai đoạn theo Fontaine, được René Fontaine đưa ra năm 1954 cho các thiếu máu chi mạn tính:

  • Giai đoạn I: Không triệu chứng, tắc mạch máu không hoàn toàn
  • Giai đoạn II: Đau khập khiễng nhẹ ở chi
    • Giai đoạn IIA: Khập khiễng khi đi một đoạn đường dài hơn 200m
    • Giai đoạn IIB: Khập khiễng khi đi một đoạn đường dài dưới 200m
  • Giai đoạn III: Đau khi nghỉ, nhất là ở bàn chân
  • Giai đoạn IV: Hoại tử và/hay  hoại  thư  của  chi Một phân loại khác của Robert B. Rutherford năm 1986 và điều chỉnh năm 1997, chia làm 5 độ (từ 0 đến IV) với 7 hạng (từ 0 đến 6).
  • Phân loại TASC (và TASC II) chia theo độ nặng căn cứ trên hình chụp động mạch.

6. ĐIỀU TRỊ

Tùy theo độ nặng của bệnh, có các bước điều trị sau đây, theo phác đồ chỉ đạo.

THAY ĐỔI NẾP SỐNG

  • Ngừng hút thuốc (thuốc lá làm BĐMNB nặng lên và là yếu tố nguy cơ cho bệnh tim-mạch). Nếu bạn hút thuốc, bỏ hút là điều duy nhất  và quan trọng hơn cả có thể giúp bạn giảm bớt nguy cơ của biến chứng.
  • Xử trí đái tháo đường.
  • Xử trí cao huyết áp.
  • Xử trí cholesterol cao, dùng các thuốc kháng tiểu cầu: aspirin, clopidogrel và statins.
  • Tập đều đặn cho người bị khập khiễng: giúp mở tuần hoàn bên, cải thiện đi lại.
  • Nếu thay đổi nếp sống vẫn không đủ, bạn cần điều trị thêm bằng thuốc để đề phòng huyết khối, giảm huyết áp và cholesterol, và kiểm soát đau cùng các triệu chứng khác.
  • Thuốc làm giảm cholesterol. Sử dụng các statin, làm giảm nguy cơ cơn đau tim  và  đột  quỵ.  Mục đích cho người bị BĐMNB là làm giảm lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) tức cholesterol “xấu”, xuống dưới 100 mg/dL hay 2,6 mmol/L. Càng  phải  thấp  hơn nữa nếu bạn có thêm nguy cơ cơn đau tim và đột quỵ, nhất là khi bạn bị đái tháo đường hay tiếp tục hút thuốc.
  • Thuốc chữa cao huyết áp. Mục tiêu là giảm huyết áp tâm thu ≤ 140 mm Hg và giảm huyết áp tâm trương xuống ≤ 90 mm Hg. Nếu bạn bị đái tháo đường, mục tiêu là ≤ 130/80 mm Hg.
  • Thuốc kiểm soát đường-huyết.
  • Thuốc đề phòng cục máu đông. Có thể dùng aspirin hàng ngày hay các thuốc khác như clopidogrel (Plavix).
  • Thuốc chữa triệu chứng. Cilostazol (Pletal) làm tăng dòng máu đi đến các chi bằng cách giữ cho máu loãng và làm rộng các mạch máu, làm  giảm  đau khập khiễng. Tác dụng phụ của thuốc là nhức đầu và tiêu chảy. Có thể thay bằng pentoxifylline (Trental), ít tác dụng phụ nhưng hiệu quả kém hơn.
  • Folate và vitamin B-12 có hiệu quả đối với hyperhomocysteinemia.
  • Thuốc thay thế. Ginkgo có tác dụng làm  loãng máu (blood-thinning effect) giúp làm giảm nhẹ các triệu chứng.

BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN

CÁC CAN THIỆP TÁI TẠO DÒNG MÁU

  • Nong động mạch được dùng cho các tổn thương đơn độc của các động mạch lớn như động mạch đùi, các động mạch chậu. Một ống nhỏ (catête) được đưa vào mạch máu và lách tới động mạch có vấn đề. Túi phình nhỏ ở đầu catête được bơm phồng để nong rộng động mạch bị tắc. Cũng có thể đưa vào một ống nong hình mắt lưới (stent) để làm mở động mạch bị hẹp.
  • Cắt mảng xơ vữa.
  • Ghép bắc cầu, dùng tĩnh mạch hiển lớn hay các mạch nhân tạo bằng sợi tổng hợp (Gore-Tex hay PTFE). Máu chạy vòng qua đoạn mạch bị hẹp hay tắc.
  • Điều trị làm tan huyết khối và lấy bỏ cục máu đông khi có huyết khối hay thuyên tắc.
  • Khi bị hoại thư: đoạn chi.

(Nguồn: ThS BS Lê Phi Long - Tạp Chí Sống Khoẻ - Bệnh viện ĐH Y Dược TP.HCM)

Xem thêm các bài viết hữu ích khác tại đây

Đang xem: TÌM HIỂU VỀ BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng