Tin tức

VI RÚT CÚM: CÁC KIẾN THỨC CẬP NHẬT VÀ ĐIỀU TRỊ

VI RÚT CÚM: CÁC KIẾN THỨC CẬP NHẬT VÀ ĐIỀU TRỊ

1. Lịch sử

Vi rút Influenza gây bệnh cúm có nhiều týp khác nhau, có độ lây nhiễm rất cao, tác động vào hệ hô hấp. Đường lây truyền là giọt bắn khi ho, hắt hơi, nói chuyện và đường tiếp xúc (có thể trực tiếp hoặc qua trung gian một bề mặt, vật dụng nhiễm vi rút). Các triệu chứng bắt đầu sau một thời kỳ ủ bệnh 1-4 ngày, gồm: nhức đầu, sốt, chán ăn, yếu mệt và đau mỏi. Các triệu chứng này có thể kéo dài cả tuần. Đa số khỏi bệnh nhờ nghỉ ngơi và dùng các thuốc hạ sốt, tuy nhiên có một biến chứng hay gặp là bội nhiễm ở phổi khi bị cúm nghiêm trọng. Tính sinh miễn dịch (thông qua tiêm chủng hoặc bị mắc bệnh trước đó) chỉ có khả năng bảo vệ chống lại được một giống vi rút đặc hiệu liên quan. Vi rút cúm đã gây ra những đợt dịch bệnh đường hô hấp mỗi 1-3 năm/lần trong suốt hơn 400 năm qua.

vi rút cúm

 

Trong những năm 1940, người ta nhận thấy cơ thể có khả năng tạo miễn dịch bảo vệ từ vacxin sử dụng vi rút sống bất hoạt. Tuy nhiên mãi đến năm 2003, vacxin sống bất hoạt lần đầu tiên mới được cấp phép sử dụng trên người tại Hoa Kỳ và nhiều nước khác.

2. Cấu tạo của vi rút cúm.

Các vi rút bệnh cúm thuộc giống influenza virus, họ orthomyxovirus. Vi rút bệnh cúm có 4 loại protein: HA, NA, nucleocapsid và chất gian bào (M). 

Trên lớp vỏ  bọc  lipid  của  vi rút  có   2   loại   glycoprotein lớn là hemagglutinin (HA) và neuraminidase  (NA).  HA   và NA là 2 protein bề mặt, quyết định tính kháng nguyên của vi rút.

Vi rút cúm có 2 loại protein cấu trúc, là nucleocapsid (NP) và chất gian bào (M), quyết định týp kháng nguyên A, B, C của vi rút và không có phản ứng chéo giữa 3 týp này với nhau. Nucleocapsid gồm bộ gen (RNA/DNA) với một màng protein bên ngoài, hợp thành capsid của vi rút. Chất gian bào là protein vây quanh nucleocapsid và tạo ra 35-45% khối lượng hạt phân tử. Ngoài cùng của vi rút là vỏ bao vi rút, gồm hai lớp lipid bao lấy các protein của vi rút.

Có 3 loại vi rút bệnh cúm: A, B và C. Các vi rút bệnh cúm A và B của người gây ra các dịch bệnh theo mùa. Vi rút cúm C có thể gây bệnh nhẹ ở đường hô hấp và hiếm khi gây ra các trận dịch địa phương.

  • Vi rút cúm A

Vi rút cúm A - gây bệnh cúm cho loài chim (thủy cầm hoang dã, gà, vịt) và vài loài động vật có vú (heo, ngựa, hải cẩu), những loài này chỉ duy nhất mắc vi rút bệnh cúm A. Một vài vi rút cúm A gây bệnh nghiêm trọng cho cả gia cầm và, hiếm hơn, cho người. Đôi khi, các vi rút từ loài chim hoang dã sống dưới nước truyền sang gia cầm, và có thể bùng phát thành các đại dịch cúm cho người.

Các loại vi rút bệnh cúm A được phân thành các thứ týp căn cứ vào hai loại protein H và N trên bề mặt của vỏ vi rút. Cho đến nay có 18 typ (H) và 1 typ (N) đã được biết, như vậy, đứng về lý thuyết, có 198 cách kết hợp khác nhau có thể có giữa các protein này. Ví dụ: H17 N10 được phân lập từ loài dơi ăn trái cây năm 2010 (A/bat/Pê-ru/10); H18N11 được phân lập từ dơi ở Peru năm 2013. Hiện có 4 loại HA (H1, H2, H3, H4) và 2 loại NA (N1, N2) được phân lập từ người.

Mỗi thứ týp của vi rút A có thể đột  biến  thành những dòng có khả năng gây bệnh khác nhau, một số chỉ gây  bệnh  cho  một  loài vật nhất định trong khi một số khác có thể gây bệnh cho nhiều loài khác nhau.

Các biến thể chính của cúm đôi khi được đặt tên theo loài vật chủ như: cúm chim, cúm người, cúm heo, cúm ngựa, cúm ở loài chó. Đa số các dòng được biết là các dòng đã tuyệt chủng. Ví dụ, thứ tuýp cúm hàng năm H3N2 không còn bao gồm dòng đã  gây  ra cúm Hong Kong trước đây nữa.

vi rút cúm

 

Các vi rút cúm A có thể đứt đoạn thêm để trở thành những dòng khác. Các tuýp hiện nay của cá vi rút cúm A ở người là các vi rút bệnh cúm A (H1N1) và cúm A (H3N2). Mùa xuân năm 2000, một vi rút cúm A mới (H1N1) phát sinh gây bệnh cho người. Vi rút mới này thường được gọi là "2009 H1N1" , thay thế cho vi rút H1N1 lưu hành trước đây ở người.

  • Vi rút cúm B

Vi rút cúm B - không có phân ra các thứ týp, nhưng về sau chúng có thể đứt đoạn để trở thành các nòi giống và các dòng. Các vi rút bệnh cúm B được biết là chỉ gây nhiễm cho người và hải cẩu. Các vi rút bệnh cúm B hiện đang lưu hành thuộc về một trong hai giống B/Yamagata và B/ Victoria, được biết từ những năm 1979. Tuy nhiên người ta cho là cũng đã có những dòng mới. Năm 2004, đa số vi rút giống với dòng B/Shangai/361/2002 thuộc nòi giống B/Yamagata/16/88 HA lineage.

  • Vi rút cúm C:

Vi rút cúm C - có thể gây bệnh nhẹ cho đường hô hấp và được cho là không phát thành dịch cúm theo mùa. Vi rút bệnh cúm C gồm các chủng vi rút phân lập được từ người và heo. Người ta có ít thông tin hơn về vi rút bệnh cúm C, nhưng các nghiên cứu cho biết là loại này có ở khắp nơi trên thế giới và gây bệnh cho đường hô hấp trên, gặp chủ yếu ở trẻ nhỏ hay ở người già có vấn đề về sức khỏe. Vi rút này gây bệnh nhẹ nên không cần tiêm chủng vacxin.

3. Khả năng biến đổi kháng nguyên.

Có 3 tuýp kháng nguyên cho 3 loại vi rút A, B, C. Hiện tượng thay đổi cấu trúc kháng nguyên xảy ra thường nhất là ở tuýp A, ít hơn ở tuýp B và gần như không đổi ở tuýp C. Vi rút bệnh cúm tuýp A còn gây nhiễm các loại thủy cầm, gà, vịt, heo, ngựa, hải cẩu. Vi rút cúm tuýp C còn gây nhiễm cho heo.

Một khả năng độc đáo của vi rút cúm là khả năng “biến đổi kháng nguyên”, dựa vào sự biến đổi cấu trúc của 2 loại glycoprotein bề mặt là HA và NA, gồm 2 cơ chế là sự trôi giạt kháng nguyên và sự thay đổi kháng nguyên (về vị trí, bản chất, hình dáng).

Sự  trôi  giạt  kháng  nguyên: các đột biến nhỏ liên tục xảy ra giúp vi rút có khả năng biến đổi glycoprotein bề mặt HA (và có thể cả NA), do đó không còn bị bất hoạt bởi kháng thể trước đó nữa.

Sự thay đổi kháng nguyên: đây l à trường hợp một vi rút nào đó trao đổi  RNA  với  một vi rút khác (trong  trường hợp có 2 chủng vi rút bệnh cúm xâm nhập vào cơ thể cùng một lúc) để tạo ra một chủng vi rút mới mà cơ thể con người chưa có kháng thể để chống lại. Chính những thay đổi  kháng  nguyên  này  đã gây ra nhiều trận dịch lớn trên thế giới. Cơ chế thay đổi kháng nguyên   có   thể    xảy ra giữa vi rút  cúm nhiễm ở  người  và  vi rút bệnh cúm nhiễm ở gia cầm hoặc heo.

Trong  hơn 1 thập kỷ qua, các thứ tuýp của vi rút cúm A phân lập được trên các mẫu bệnh phẩm từ gia cầm hoặc chim gồm  có  H9,  H7, và đặc biệt là H5, còn H1N1 phân lập được từ heo đã gây ra trận đại dịch năm 2009.

4. Điều trị.

Bốn loại thuốc kinh điển được chuẩn thuận điều trị cho bệnh nhiễm cúm A: Amantadine, Rimantadine, Zanamivir, Oseltamivir.

Vào  tháng  12/2014,  FDA   của   Hoa Kỳ  đã  chấp  thuận  cho  phép  sử  dụng một thuốc điều trị cúm mới là peramivir . Peramivir là thuốc kháng neuraminidase thế hệ thứ 3, nhưng là thuốc đầu tiên có thể sử dụng bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch.

Xem thêm các bài viết khác tại đây

Nguồn: TS. BS. Huỳnh Minh Tuấn - Tạp Chí Sống Khỏe -  BV ĐH Y Dược Tp.HCM.

Đang xem: VI RÚT CÚM: CÁC KIẾN THỨC CẬP NHẬT VÀ ĐIỀU TRỊ

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng